Quảng bá, tiếp thị sản phẩm VLXD thời hậu Covid 19

Virus corona chủng mới tràn qua thế giới tạo nên một đại dịch. Các quốc gia phải tuyên bố đóng cửa biên giới, ban bố tình trạng khẩn cấp, thực hiện cách ly xã hội, cách ly cộng đồng, mọi hoạt động giao thương đình trệ. Trong thời gian thực hiện cách ly, chỉ có các giao dịch mua bán các nhu yếu phẩm liên quan đến đời sống con người. Các cửa hàng, cửa hiệu đóng cửa, buôn bán VLXD đình trệ đừng nói gì đến hội thảo, hội chợ, triển lãm.

Đã mấy tháng nay, khắp cả nước và trên thế giới, không có nơi nào tổ chức hội chợ, hội thảo, triển lãm, chỉ có một vài quảng cáo trên truyền hình. Thế giới chìm đắm trong bóng tối, mà thực chất sản xuất cũng diễn ra không đáng kể. Tuy nhiên sản xuất VLXD ở Việt Nam vẫn được diễn ra theo cách cách ly giữa người lao động với khoảng cách một, hai mét. Người sản xuất vẫn cố gắng duy trì ở mức độ nhất định, những quảng bá thương hiệu sản phẩm thông qua các kênh tụ họp đông người hoàn toàn bị cấm. Đã nửa năm nay, các hoạt động hội thảo, triển lãm như Vietbuild đều không diễn ra, mặc dầu việc đăng ký tham gia triển lãm đã được hoàn tất từ năm trước.

 Tới đây, khi mọi hoạt động ở Việt Nam trở lại bình thường, các hội chợ triển lãm VLXD chắc chắn sẽ được khai trương trở lại, các hội thảo giới thiệu sản phẩm mới, công nghệ mới của ngành cũng sẽ được tổ chức ở tất cả các lĩnh vực như xi măng, gốm, sứ, kính xây dựng, bê tông, vật liệu trang trí nội ngoại thất…Điều đáng nói là mặc dầu sự lây nhiễm virus corona trong cộng đồng ở Việt Nam đã không còn diễn ra một tháng nay, nhưng việc tái diễn lây nhiễm lại diễn ra ở Hàn Quốc, ở Vũ Hán Trung Quốc. Nghĩa là nguy cơ vẫn còn và mối lo ngại về sự bùng phát thảm họa lây nhiễm trong cộng đồng trên thế giới và ở mỗi quốc gia là có thật. Vậy trong điều kiện các thảm họa luôn rình rập do tác động của nhiều yếu tố khách quan, của biến đổi khí hậu…thì việc quảng bá thương hiệu, sản phẩm VLXD của doanh nghiệp, có lẽ, cũng phải điều chỉnh, thích nghi với điều kiện mới.

Thực ra, trước khi có dịch covid-19 thế giới đã có nhiều thay đổi, trong đó đặc biệt nhất là do tác động của cách mạng thông tin, của sự phát triển công nghệ kỹ thuật số. Nhiều sản phẩm, hàng hóa đã chuyển từ mua bán, giao thương tại các cửa hàng, cửa hiệu, các siêu thị, đại siêu thị sang trực tuyến, online. Người mua đặt hàng qua mạng, hàng hóa được chuyển đến tay người tiêu dùng. Những loại hàng hóa chủ yếu được đánh giá qua chất lượng, chỉ tiêu chất lượng, thương hiệu thì việc giao dịch online rất thuận tiện. Đối với những mặt hàng mà sự lựa chọn, ngoài các chỉ tiêu chất lượng, còn cần quan tâm đến màu sắc, kiểu dáng, mẫu mã, thì việc giao dịch mua bán thông qua online khó khăn hơn nhiều. Sản phẩm VLXD nằm trong nhóm này. Xã hội tương lai có thể có lúc vừa phải cách ly xã hội, cách ly cộng đồng nhưng phải “chung sống” với dịch bệnh hoặc thảm họa mang tính toàn cầu. Trong điều kiện đó, người tiêu dùng cần lựa chọn sản phẩm VLXD cho công trình xây dựng thì tiếp cận bằng cách nào? Lựa chọn VLXD là sự lựa chọn mang tính so sánh gần như trực tiếp giữa sản phẩm của thương hiệu này với thương hiệu kia, giữa mẫu mã này với mẫu mã kia, trong khi ngoài xã hội có rất nhiều nhà sản xuất và nhiều hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.

Để người tiêu dùng có thể so sánh được sự khác nhau giữa các thương hiệu thì cần tiếp xúc với sản phẩm của nhiều thương hiệu khác nhau trong thời điểm xã hội yêu cầu cách ly, không tụ họp đông người. Như vậy, có thể, mô hình tương lai sẽ là sự kết hợp giữa triển lãm, hội chợ truyền thống với triển lãm trên mạng nhờ công nghệ thông tin. Vai trò của triển lãm, hội chợ truyền thống sẽ có những thay đổi, không cần tụ họp đông người như trước đây. Người quảng bá thương hiệu, sản phẩm sẽ phải thay đổi phương thức sao cho người tiêu dùng có thể có đầy đủ thông tin ngắn gọn, dễ lưu giữ về sản phẩm, về kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc, số hiệu, thương hiệu để khi mua hàng qua mạng có thể dễ dàng chọn đúng chủng loại mà mình ưa thích. Triển lãm “thật” lúc đó sẽ có vai trò phục vụ khách hàng vừa là nguồn tư liệu sống để các nhà công nghệ thông tin tập hợp mã hóa trên trang điện tử của các kỹ triển lãm. Người tiêu dùng khi lướt qua mạng vẫn được lựa chọn, so sánh, đánh giá như lúc ra hiện trường triển lãm.

Nếu phương thức này được thực thi thì triển lãm theo phương thức mới, rất có thể, sẽ trở thành phương thức quảng bá, giới thiệu sản phẩm của tương lai, không chỉ dành cho những lúc xảy ra đại dịch hay tai họa nữa mà sẽ trở thành phương thức mới phù hợp với thời đại công nghệ thông tin, thời đại kỹ thuật số.

Từ đây có thể nói rằng, giao dịch, bán hàng VLXD trong tương lai, một phần sẽ được thực hiện theo hình thức online. Chủng loại sản phẩm nào dễ thực hiện hình thức này, chắc chắn sẽ được thực hiện trước. Hình thức kế tiếp online, hiện nay chưa rõ. Mức độ phổ cập online cũng vẫn là ẩn số. Điều đặc biệt quan trọng là làm cách nào để người tiêu dùng có thể chọn được  chính xác chủng loại VLXD  mình cần cho công trình? Có thể, ngoài các trang mạng, sẽ còn một vài kênh thông tin khác mà người tiêu dùng cần tiếp cận cho những yêu cầu gần và nhu cầu xa hơn. Có thể nghĩ rằng, việc thay đổi hình thức giao dịch mua bán sản phẩm VLXD chắc chắn sẽ diễn ra, không chỉ vì tác động của đại dịch, của cách ly xã hội, mà còn vì những hiệu quả mới mà hình thức giao dịch mới mang lại.

Xuân Hạnh