Phát triển gốm sứ xây dựng và đá ốp lát theo quy hoạch

Vào những ngày cuối năm 2014, lĩnh vực vật liệu gốm sứ xây dựng và đá ốp lát vui mừng nhận được quyết định số 1586/QĐ-BXD về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển vật liệu gốm sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam đến năm 2020” do Bộ trưởng Xây dựng ký.

Cong-nghe-gom-su

Đây không chỉ là quyết định mới nhất giúp định hướng cho phát triển mà bản thân nội dung của nó chứa đựng nhiều quan điểm tư duy và giải pháp mới, là đúc kết thực tiễn từ nhiều năm hoạt động của ngành và tầm nhìn mang tính chiến lược lâu dài.

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú về sản xuất vật liệu gốm sứ, và đá ốp lát xây dựng. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ công nghệ nên chỉ từ khi Việt Nam mở cửa hội nhập vào nến kinh tế thế giới thì lĩnh vực gốm sứ, đá ốp lát mới tiếp cận được công nghệ tiên tiến của thế giới và các nhà đầu tư đã xúc tiến đầu tư công nghệ, đưa vật liệu ốp lát xây dựng phát triển mạnh mẽ. Năm 1994, khi Viglacera đầu tư nhà máy gạch ốp lát đầu tiên theo công nghệ lò nung thanh lăn, Việt Nam gần như chưa có gạch ốp lát, đến nay sau 20 năm, tổng công suất các nhà máy sản xuất gốm ốp lát trong cả nước đã lên đến 500 triệu m2, một con số lớn đến mức không ai có thể dự đoán được. Việc phát triển gạch gốm xây dựng, đá ốp lát không chỉ theo chiều rộng, tăng nhanh sản lượng mà đã căn bản thay đổi về chất.

[caption id="attachment_812" align="aligncenter" width="300"]The Sales are on - but no-one's buying!

The Sales are on - but no-one's buying![/caption]

Thời kỳ đầu, Việt Nam chỉ đầu tư gạch ốp lát ceramic mà gạch ốp là chủ yếu, kích thước viên gạch 300x300 mm. Do nhu cầu thị trường và sự phát triển của công nghệ nên chỉ sau một thời gian ngắn các nhà đầu tư đã chuyển từ đầu tư gạch ceramic có độ bền thấp hơn sang gạch granit nhân tạo, có nhiều tính năng ưu việt hơn, rồi đến đầu tư gạch cotto từ nguyên liệu đất sét bằng phương pháp đùn dẻo.

Từ chỗ đầu tư chủ yếu gạch lát, các nhà đầu tư đã chuyển mạnh sang sản xuất gạch ốp. Từ sản xuất sản phẩm kích thước nhỏ sang sản xuất sản phẩm kích thước ngày càng lớn với mẫu mã, màu sắc đa dạng. Sứ vệ sinh  cũng có những bước tiến ngoạn mục cả quy mô dây chuyền, mẫu mã, hình dáng, kích thước sản phẩm và chất lượng xương, men. Việt Nam cũng nhanh chóng ứng dụng công nghệ phủ men nano lên bề mặt sứ vệ sinh, làm tăng vẻ đẹp, độ trơn bóng và có khả năng tự làm sạch. Có thể nói, ngày nay trình độ công nghệ sản xuất sản phẩm ốp lát, sứ vệ sinh của Việt Nam đã đạt trình độ tiên tiến của thế giới. Trong lĩnh vực này nước ta đã trở thành cường quốc có tên tuổi trên bản đồ thế giới, sản phẩm đã xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới kể cả thị trường khó tính châu Âu, châu Mỹ. Lĩnh vực đá ốp lát cũng thực sự đồng hành với sự phát triển ngành vật liệu xây dựng cả về quy mô, công nghệ và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu. Sx-gom-su

Những thành công của ngành, của lĩnh vực là kết quả tổng hợp của đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập, sự vươn lên chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp, trong đó có sự đóng góp mang tính định hướng của các quy hoạch phát triển VLXD, quy hoạch phát triển gốm sứ xây dựng qua các thời kỳ. Chính các quy hoạch đó là cơ sở cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư xác định được các nội dung cơ bản về định hướng phát triển làm cơ sở để đầu tư.

Tuy nhiên, nhận thức là quá trình, các quy hoạch trước cũng không tránh khỏi những tồn tại của nó về dự báo, cách phân bổ quy hoạch và giải pháp quản lý đầu tư theo quy hoạch, giải pháp quản lý về trình độ công nghệ, sự phối hợp trong đầu tư sản xuất, kinh doanh. Hai mươi năm qua là thời kỳ gặp gỡ duyên kỳ ngộ giữa nhà đầu tư và chính quyền của các địa phương, các tỉnh thảnh phố. Địa phương cần có nhà đầu tư, có lúc, có nơi, bằng bất kỳ cách nào. Nhà đầu tư nhanh chóng chớp lấy cơ hội. Nhà nước thực thi chính sách phân cấp, buông lỏng quản lý và cứ thế nhiều dây chuyền sản xuất ra đời, công nghệ cao, công nghệ thấp, quy mô lớn, quy mô nhỏ, nhà đầu tư có năng lực, kém năng lực, tất cả đều được chấp nhận. Với cách đầu tư như vậy đã thu được nhiều kết quả nhưng cũng để lại nhiều hậu quả. Đầu tư không kiểm soát dẫn đến thị trường thiếu kiểm soát và định hướng. Sản phẩm đan xen, sức cạnh tranh cũng khác nhau, canh tranh không lành mạnh, thi nhau giảm giá, giảm chất lượng cũng nhiều. Kết quả nhiều doanh nghiệp phá sản, khó khăn chồng chất. Tuy nhiên có cái được rất lớn là tư duy. Từ trong khó khăn, việc đầu tư giảm dần và chọn lọc. Ngày nay chỉ có các doanh nghiệp đủ năng lực tài chính, công nghệ thị trường mới bàn đến đầu tư và quy mô công suất cũng được xác định là phải tương đối lớn. Chính nội dung này là một trong những quyết sách của quy hoach số 1586/QĐ-BXD. Trước đây nếu đưa ra quyết định này chắc còn nhiều bàn tán, song vào thời điểm này hoàn toàn có đủ niềm tin về tính khả thi.

gom-su2

Quy hoạch số 1586/QĐ-BXD, về bản chất là bản đúc rút thành tựu thông qua các yếu điểm và thất bại của một thời gian dài. Chính vì vậy, có lẽ, tính khả thi của quy hoạch rất cao. Nó phản ánh được những nét cơ bản mà ngành gốm, sứ vệ sịnh xây dựng và đá ốp lát Việt Nam cần vươn tới.

Ngoài việc định hướng ưu tiên tập trung đầu tư sản xuất gạch granit, gạch cotto chiếm khoảng 10%, không đầu tư mới và mở rộng sản xuất gạch ceramic và sắp xếp, cơ cấu lại các cơ sở sản xuát gạch ốp với quy mô hợp lý với công nghệ thiết bị hiện đại, quy hoạch lần này tập trung hình thành một số khu vực sản xuất và gia công chế biến nguyên liệu tập trung. Đây là một quyết định hết sức đúng  đắn và ý tưởng này cũng đã xuất hiện trong các quy hoạch trước đây nhưng chưa rõ nét. Kinh nghiệm phát triển gạch ốp lát trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy nếu không xây dựng các khu chế biến nguyên liệu tập trung thì không có nguồn nguyên liệu chất lượng cao và ổn định, lãng phí trong đầu tư các dây chuyền sản xuất gạch gốm và trong sử dụng tài nguyên khoáng sản và làm tăng giá thành sản xuất, không thể tạo ra một nền sản xuất đồng đều ở trình độ cao. Tuy nhiên, để thực hiện được quyết định này là rất khó. Cần có các chế tài và giải pháp cụ thể, và rất cần sự can thiệp của nhà nước để điều hành và tạo các cơ chế hỗ trợ. Nếu làm không tốt điều này sẽ dẫn đến việc không có nhà đầu tư chế biến nguyên liệu đủ tầm với công nghệ cao, quy mô lớn và không cung cấp được nguyên liệu theo đúng yêu cầu chất lượng và giá cạnh tranh.

Quy hoạch 1586/QĐ-BXD lần này đã đưa ra các yêu cầu chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ mà các loại hình công nghệ cần phải vươn tới trong sản xuất và đầu tư, là cơ sở để các địa phương làm căn cứ khi cấp giấy chứng nhận đầu tư. Đây là hình thức kiểm tra trình độ công nghệ của dự án trước đầu tư, cũng như kiểm tra sản xuất của những cơ quan có thẩm quyền.

Cong-nghe-gom-su2

Mặc dù, quy hoạch phát triển vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát là quy hoạch mở, nhưng căn cứ trên điều kiện nguồn nguyên liệu và thị trường, quy hoạch đã nêu ra định hướng phát triển sản phẩm đến năm 2020 theo các vùng kinh tế, giúp cho nhà đầu tư có cách nhìn đầy đủ hơn trong lựa chọn đầu tư.

Tóm lại, quy hoạch phát triển vật liệu gốm, sứ vệ sinh, đá ốp lát theo quyết định số 1586/QĐ-BXD ngày 30/12/2014 là bản quy hoạch có nhiều điểm mới, gắn với thực tế và điều kiện phát triển ở Việt Nam, là bước tiến mới trên chặng đường phát triển của lĩnh vực công nghiệp, là cơ sở định hướng để phát triển. Tuy nhiên để quy hoạch có thể đạt được các mục tiêu và chỉ tiêu nêu ra, cần có các giải pháp mạnh, cần cụ thể hóa các cơ chế và có sự chỉ đạo tập trung. Đây là điều còn tồn tại của chính quy hoạch. Bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp về lĩnh vực này chắc chắn sẽ đưa ra các hướng dẫn, các giải pháp, các đề xuất nhằm hỗ trợ để quy hoạch sẽ sớm trở thành hiện thực.

Châu Giang 

Tạp chí VLXD số 3/2015