Quy hoạch sẽ tác động lớn đến ngành gốm sứ xây dựng

Đăng lúc 4/23/2016 12:00:00 AM

Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định 1586/QĐ-BXD“Phê duyệt Quy hoạch phát triển vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam đến năm 2020”. Xin ông cho biết Quy hoạch lần đầu tiên được ban hành này sẽ có tác động như thế nào đến sản xuất của ngành Gốm sứ xây dựng và đá ốp lát Việt Nam. Ong-Luong-Duc-Long

Ông Lương Đức Long - Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng

Trong những năm vừa qua, sản lượng sản xuất các mặt hàng VLXD của nước ta, trong đó có vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát có bước tăng trưởng mạnh mẽ. Ngoài việc cung cấp hàng hóa cho tiêu dùng trong nước, nhiều sản phẩm VLXD còn được xuất khẩu để thu ngoại tệ cho đất nước. Việc ban hành Quy hoạch phát triển vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt nam đến năm 2020 trước hết thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới ngành sản xuất các sản phẩm này. Có thể nói, Quy hoạch vừa được ban hành sẽ có tác động lớn đến ngành sản xuất vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam. Các số liệu dự báo về nhu cầu các sản phẩm, bao gồm cả lượng xuất khẩu năm 2020 và quan điểm phát triển được nêu trong Quy hoạch sẽ cung cấp cho các nhà sản xuất, các nhà đầu tư những định hướng về thị trường và đầu tư để điều chỉnh kế hoạch đầu tư, sản xuất kinh doanh cho phù hợp. Các chỉ tiêu quy hoạch về công nghệ, thiết bị, mức tiêu hao trong sản xuất đòi hỏi các nhà đầu tư, sản xuất phải cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản xuất để đáp ứng yêu cầu của Quy hoạch. Các định hướng đầu tư trong Quy hoạch sẽ từng bước đưa các ngành sản xuât vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam phát triển đúng hướng và có kiểm soát. Quy hoạch đã được phê duyệt, vậy ông đánh giá thế nào về tiềm lực thực tế của ngành thời điểm hiện tại? Có thể nói vật liệu gốm, vật liệu sứ xây dựng và đá ốp lát là 3 ngành tương đối khác nhau. Đối với gốm ốp lát, hiện nay, Việt Nam là một trong những nước sản xuất gạch gốm ốp lát lớn trên thế giới. Quy mô sản xuất tương đối đa dạng, bao gồm cả nhỏ, vừa và lớn. Trình độ công nghệ ở mức trung bình tiên tiến của khu vực, chất lượng sản phẩm đạt các tiêu chuẩn nước ngoài nhưng còn thiếu các sản phẩm cao cấp và nghèo nàn về mẫu mã. Ngành sản xuất sứ vệ sinh cũng trong tình trạng tương tự như gốm ốp lát, còn ngành sản xuất đá ốp lát tự nhiên thì kém hơn. Đá ốp lát ở nước ta chủ yếu là quy mô nhỏ, khai thác ở trình độ công nghệ thấp, chất lượng hàng hóa chưa cao, mẫu mã nghèo nàn. Nhìn chung bức tranh tổng thể về ngành sản xuất vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam là: Quy mô các cơ sở sản xuất nhỏ, phân tán, chưa có ngành công nghiệp chế biến nguyên liệu. Là trung tâm nghiên cứu hàng đầu của Bộ Xây dựng, Viện Vật liệu xây dựng có kế hoạch gì trong việc nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến giúp nâng cao hơn nữa công suất, chất lượng sản phẩm như quy hoạch đã đề ra? Thưa ông. Để ngành sản xuất vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam phát triển theo đúng những nội dung nêu trong Quy hoạch, có rất nhiều việc phải làm, trong đó có việc nâng cao năng lực công nghệ và giảm thiểu phát thải vào môi trường. Đây là 2 nội dung Viện Vật liệu xây dựng quan tâm và cũng là nhiệm vụ của Viện. Chúng tôi đã và đang triển khai một số đề tài nghiên cứu theo hướng nâng cao chất lượng gạch gốm ốp lát; chế tạo và sử dụng vật liệu nano cho sứ vệ sinh; nghiên cứu cải tiến công nghệ để giảm tiêu hao và phát thải vào môi trường. Ngoài ra, Viện cũng đang tích cực tiếp xúc với các viện nghiên cứu và các nhà sản xuất thiết bị và sản phẩm Châu Âu, Nhật Bản để nắm bắt các xu hướng công nghệ mới để hỗ trợ việc nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Theo ông, để các sản phẩm gốm sứ xây dựng và đá ốp lát Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý thế nào về công nghệ và nguồn nguyên liệu? Để các sản phẩm vật liệu gốm, sứ xây dựng và đá ốp lát ở Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường xuất khẩu, theo tôi, các doanh nghiệp Việt Nam cần tập trung làm tốt mấy việc sau:

  • Một là: Nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và đa dạng mẫu mã, phù hợp thị hiếu của thị trường xuất khẩu mà doanh nghiệp nhắm tới. Lưu ý rằng, hiện nay chúng ta đang phấn đấu đạt các tiêu chuẩn tiên tiến của Châu Âu, Nhật Bản, nhưng điều đó chưa đủ. Ở các nước tiên tiến, các nhà sản xuất đều xây dựng các tiêu chuẩn doanh nghiệp cao hơn những tiêu chuẩn này.
  • Hai là: Nâng cao năng lực quản lý, điều hành sản xuất để ổn định chất lượng sản phẩm ở mức cao. Sản phẩm của VN hiện nay, mặc dù đạt tiêu chuẩn nhưng mức độ dao động chất lượng còn lớn.
  • Ba là: Tạo ra những sản phẩm có tính khác biệt, đặc trưng, tạo ra thương hiệu riêng cho mình.
  • Bốn là: Giảm chi phí sản xuất, bao gồm cả chi phí nguyên liệu, năng lượng và nhân công.
  • Năm là: Hình thành và phát triển ngành công nghiệp chế biến nguyên liệu.
  • Sáu là: Tăng cường công tác marketing và phát triển kỹ năng thương mại quốc tế.

Tạp chí VLXD số 3/2015